* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* Mua tên miền "MUABANNHADATTPHCM.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Ghen bán nguyệt d30 - 0974.002.002 (A. Hùng)

Cơ chế hoạt động của cáp quang là gì?

Các tia sáng có thể được sử dụng để truyền một lượng dữ liệu khổng lồ. Các dây cáp quang được thiết kế sao cho chúng uốn cong tất cả các tia sáng vào bên trong (sử dụng TIR). Các tia sáng được truyền đi liên tục, bật ra khỏi các bức tường sợi quang và truyền dữ liệu từ điểm đầu đến điểm cuối. Cho dù tín hiệu ánh sáng cũng có khả năng bị suy giảm đi bởi khoảng cách (tùy thuộc vào độ tinh khiết của vật liệu được sử dụng), nhưng nó vẫn truyền tín hiệu tốt hơn so với cáp kim loại.

Phân biệt cáp sợi quang ống đệm chặt và cáp quang ống đệm lỏng

Ống đệm bảo vệ là một trong các thành phần cấu tạo cơ bản của sợi quang, được chia làm hai loại chính là ống đệm chặt (tigh buffer) và ống đệm lỏng (loose tube). Mỗi loại sở hữu những đặc điểm nổi trội riêng phù hợp cho những môi trường khác nhau.

Ống đệm chặt

Ống đệm chặt là một lớp chất dẻo, bao bọc luôn cả lớp bảo vệ (coating). Trong thiết kế ống đệm chặt, coating là một lớp chất dẻo mềm cung cấp độ bền, dẻo dai và giảm ngoại lực tác động lên sợi quang. Ống đệm bên ngoài cứng hơn, giúp tăng cường khả năng bảo vệ vật lý.

Ống đệm chặt đảm bảo cố định sợi quang, giúp người thi công dễ dàng tiến hành bấm đầu cáp. Khi có cùng số lượng sợi quang, cáp quang sử dụng ống đệm chặt sẽ có kích thước nhỏ hơn so với cáp quang sử dụng ống đệm lỏng. Tuy nhiên, ưu điểm này sẽ không còn khi số lượng sợi quang tăng lên, vì ống đệm lỏng cho phép chứa nhiều sợi quang bên trong một ống đệm hơn (tối đa 12 sợi quang).

Ưu điểm chính của cáp quang sử dụng ống đệm chặt là phù hợp cho môi trường trong nhà do chất liệu cấu thành nó đều đáp ứng các yêu cầu về an toàn điện, hỏa hoạn. Ngoài ra, dù có suy hao nhiều hơn so với ống đệm lỏng, nhưng ở khoảng cách ngắn như môi trường trong nhà thì cáp quang dụng ống đệm chặt vẫn đáp ứng tốt.

Ống đệm lỏng

Ống đệm lỏng có cấu trúc là ống trụ tròn dài Học bằng chất dẻo, với đường kính mặt trong có kích thước lớn hơn đường kính sợi quang. Sợi quang được đặt trong một cấu trúc xoắn lỏng (loose helix) nên có thể di chuyển tự do trong ống. Thiết kế này bảo vệ sợi quang khỏi áp lực tác động lên cấu trúc cáp trong quá trình thi công, bao gồm những ảnh hưởng do thay đổi nhiệt độ môi trường – nguyên nhân chính gây suy hao tại điểm uốn cong cáp hoặc gây hư hỏng cáp.

Có nhiều phương pháp triển khai ống đệm lỏng: các sợi quang có thể đặt trong cùng một ống, hoặc đặt riêng từng ống hoặc nhóm lại thành một hoặc nhiều hàng (ribbon). Thông thường, mỗi ống đệm lỏng sẽ chứa tối đa 12 sợi quang, sợi quang đặt trong ống và ống sẽ tuân theo chuẩn mã màu.

Bên trong các ống đệm lỏng lấp đầy hợp chất chống thấm nước. Nếu có nhiều ống đệm lỏng thì giữa chúng sẽ được bao phủ một lớp gel bôi trơn.

Cáp có cấu trúc ống đệm lỏng thích hợp cho môi trường ngoài trời, có thể triển khai thi công ở nhiều vị trí như đi treo, đi chôn trong ống hoặc chôn trực tiếp dưới đất.



Tại Việt Nam, các kết nối Internet quốc tế hiện tại, cũng tương tự nhiều nước khác trên thế giới, chủ yếu phụ thuộc vào các đường cáp quang biển. Các tuyến cáp chính bao gồm tuyến AAG (Asia-America Gateway), TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hongkong) và SMW3 (hay còn gọi là SEA-ME-WE3). Trong các tuyến cáp quang biển này, trừ đường SMW3 đi theo chiều kết nối từ Châu Á sang Ấn Độ, vào Châu Âu, các tuyến còn lại đi theo hướng sang Châu Mỹ qua đảo Guam và Hawaii.

Cho đến ngày 8/3, các đường cáp này đều từng gặp sự cố, gây ảnh hưởng đến kết nối Internet giữa Việt Nam và thế giới. Trong đó, tuyến SMW3 tuy gặp một số sự cố như đứt đường truyền tại Pakistan, đứt cáp trong vụ động đất ngày 26/12/2006… nhưng hầu như chưa trực tiếp ảnh hưởng đến việc truyền dẫn dữ liệu với Việt Nam. Tuyến TVH vào tháng 3/2007 đã bị cắt trộm 11 km cáp cùng một số thiết bị đi cùng tại vùng biển Cà Mau. Việc đứt cáp TVH vào thời điểm đó đã gây ảnh hưởng cực kì nghiêm trọng đến việc truyền dẫn tín hiệu Internet quốc tế với Việt Nam do phải phụ thuộc vào tuyến SMW3 duy nhất còn lại. Điều đáng buồn là 11 km cáp quang này (vào khoảng 100 tấn, trị giá khoảng 6,8 triệu USD) sau đó được phát hiện bị đem bán với giá phế liệu. Tại thời điểm hiện tại, sự cố với đường cáp AAG tuy chưa được các nhà chức trách xác nhận nhưng nhiều người tin rằng có nguyên nhân do con người hơn là nguyên nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, cần biết rằng sự cố với đường cáp quang biển thiệt hại không chỉ là đoạn cáp bị mất hoặc đứt gãy mà việc lắp đặt lại, thay mới thiết bị đi kèm là tổn thất rất đáng kể.

Dù với lí do khách quan hay chủ quan, rõ ràng đã đến lúc phải nhìn nhận lại về vấn đề kết nối thông tin toàn cầu vì việc đứt cáp quang biển không phải là vấn đề riêng tại Việt Nam khi mà bảo vệ đường cáp trên biển không phải là chuyện dễ dàng. Tuy nhiên, có lẽ cho đến khi có một pháp khả thi hơn, người dùng vẫn chỉ biết cầu mong không có thêm sự cố nào xảy đến với hai đường cáp còn lại cũng như đường cáp AAG sớm được phục hồi.

Gần đây, tuy việc kết nối qua vệ tinh đã được triển khai tại nhiều vùng và thử nghiệm trên diện rộng tại một số quốc gia, cáp quang biển vẫn giữ vai trò trọng yếu trong kết nối thông tin toàn cầu. Đến năm 2006, các liên lạc qua vệ tinh vẫn chỉ chiếm khoảng 1% lưu lượng thông tin quốc tế toàn cầu. Điều này cũng không lạ khi cho đến thời điểm hiện tại, lưu lượng truyền tải của các đường cáp quang có thể đạt đến hàng terabit/giây trong khi chỉ vào hàng megabit/giây với độ trễ cao hơn rất nhiều trên đường truyền vệ tinh. Thực tế cho thấy sự phụ thuộc vào các đường cáp quang quốc tế là vô cùng to lớn và bất kì sự cố nào ảnh hưởng đến các tuyến cáp xuyên biển cũng sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng. Vì thế, để đảm bảo an toàn, thông suốt trong các kết nối thông tin, một quốc gia thường có nhiều tuyến cáp liên kết với các cổng Internet thế giới.

Đường dây cáp hiện nay mỏng hơn nhiều – khoảng 3 inch. Tại điểm sâu nhất ở rãnh Nhật Bản, cáp quang đi sâu tới 8,000m trong đại dương. Đó cũng là chiều cao của núi Everest.

Vỏ bao gồm (theo thứ tự 1 – 8): Polyethylene, băng Mylar, dây kim loại (thép), chắn nước bằng nhôm, Polycarbonate, đồng hoặc nhôm ống, thạch dầu khí (giúp bảo vệ cáp khỏi nước), sợi quang học.

Cáp quang biển có nhiều ưu điểm như vậy nhưng khi lắp đặt hệ thống cáp quang biển gặp một số vấn đề khó khăn như: Chi phí cao và kết nối khó khăn. Trước hết, do đặc tính cấu tạo, giá thành bản thân cáp quang cùng các thiết bị đi kèm đã cao. Tiếp đến, do kết nối xuyên lục địa qua các đại dương, việc lắp đặt luôn chứa đựng nhiều vấn đề khó khăn, từ tìm kiếm khu vực đáy biển phù hợp cho đến tránh kết nối vào lúc thời tiết xấu. Ngoài ra, do chính đặc tính truyền dẫn ánh sáng, dây cáp cần được kéo thẳng, tránh bị gấp khúc hay gặp phải vật cản.



Nhờ vào những khoản đầu tư khổng lồ từ những công ty đang tìm kiếm để khai thác, hệ thống cáp quang dưới biển hiện nay đã trở thành những đường dây thương mại hiện đại bậc nhất.

Ví dụ như hãng công nghệ khổng lồ như Google đã đầu tư tới 300 triệu USD vào hệ thống cáp xuyên Thái Bình Dương để di chuyển dữ liệu nhanh hơn. Hay ngay cả Facebook cũng đầu tư rất nhiều tiền của vào hệ thống cáp quang ở Châu Á.

Không có nhiều thay đổi trong những năm qua. Các tàu trở cáp di chuyển dọc theo đại dương rồi từ từ tháo cáp để chúng chìm xuống đáy biển. SS Great Eastern là công ty đầu tiên thành công đặt một dây cáp quang xuyên Thái Bình Dương vào năm 1866. Lúc đó, cáp quang được sử dụng để truyền tải thông tin điện báo. Từ năm 1956, đường dây này bắt đầu truyền tải các tín hiệu điện thoại.

Cáp quang ra đời vào năm 1966 và được các công ty viễn thông triển khai sử dụng vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, chỉ đến thập niên 90 của thế kỉ XX, Internet mới thực sự khiến công nghệ cáp quang bùng nổ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁP QUANG BIỂN

Hệ thống cáp quang dưới biển thường được ưa chuộng hơn truyền hình vệ tinh vì tốc độ và độ tin cậy của hệ thống này khá cao, hiếm khi bị hỏng. Nhờ vào tốc độ cao, loại cáp quang này luôn có thể cung cấp và hỗ trợ các đường dây dự phòng có sẵn.

Cáp quang biển được dùng để chỉ các cáp viễn thông có lõi bằng sợi thủy tinh hoặc nhựa, và sử dụng ánh sáng để truyền dẫn tín hiệu (cáp quang) được đặt dưới đáy biển. Ngày nay, cáp quang biển là cầu nối viễn thông, Internet giữa tất cả các châu lục toàn cầu (trừ vùng Nam Cực). Sợi cáp quang biển điển hình có đường kính 69 mm, nặng khoảng 10 kg/m (một số loại cáp mỏng và có khối lượng nhẹ hơn có thể được dùng tại các khu vực đáy biển sâu).

Mỗi sợi quang biển được kết thành từ bó rất nhiều sợi cáp quang với lớp vỏ bảo vệ nhiều lớp để đảm bảo độ an toàn cho cáp trong môi trường đáy biển khắc nghiệt như: Nhựa PE, thép, nhôm, nhựa polycarbonate, đồng hoặc nhôm…

Tuy chịu đựng được môi trường nước biển với nồng độ muối cao, cáp quang không chịu được nhiệt độ đến -80oC và môi trường đóng băng quanh năm, vì thế đến nay vẫn chưa có đường cáp quang nào kết nối khu vực Nam Cực.

Về cơ cấu hoạt động, cáp quang truyền dẫn tín hiệu dưới dạng xung ánh sáng do một diode phát sáng (LED) hoặc laser truyền vào, sau đó, cảm ứng quang ở đầu phát chuyển xung ánh sáng này ngược trở lại thành dữ liệu.

Cáp quang có nhiều ưu điểm như mỏng hơn cáp đồng, chỉ truyền tín hiệu ánh sáng nên nhanh, không bị nhiễu, khó bị can thiệp (như nghe trộm, đánh cắp tín hiệu… ), không cháy (do không có điện chạy qua cáp). Đặc biệt, độ suy giảm tín hiệu của cáp quang cực kì thấp và có dung lượng truyền tải cao (mỗi sợi cáp quang nhỏ hơn cáp đồng nên một bó cáp cùng kích thước có thể gồm nhiều sợi cáp hơn, và do đó truyền tải được nhiều kênh tín hiệu hơn). Chính nhờ những đặc điểm về cơ cấu hoạt động và đặc tính vật lí của mình, cáp quang ngày nay đã trở thành phương tiện kết nối thông tin trọng yếu xuyên lục địa trên toàn cầu (Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ,… khoảng cách về thông tin được rút ngắn chỉ tính bằng giây (s))



So sánh bản đồ cũ với bản đồ về con đường giao thương năm 1912 và bản đồ cáp quang dưới biển ngày nay giúp chúng ta hình dung mọi thứ đã phát triển như thế nào

Cáp quang AAG có tên đầy đủ là Asia - America Gateway, sự ra đời của nó là một cuộc cách mạng về kết nối băng thông rộng giữa Châu Á và Hoa Kỳ. Hiện tại đường truyền quốc tế, tốc độ Internet Việt Nam ra thế giới phụ thuộc chính vào tuyến cáp quang này.

Cáp quang AAG khá nổi tiếng với cộng đồng mạng tại Việt Nam vì thường xuyên bị đứt và ngừng hoạt động kể từ khi được đưa vào sử dụng năm 2009. Đa phần những trục trặc xảy ra trong đoạn S1 tại vùng biển Việt Nam giữa Hong Kong và Singapo với chiều dài là 314 Km.

Trước năm 2009, Internet Việt Nam kết nối quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào hai tuyến cáp quang biển là T-V-H (Thailand-Vietnam-Hong Kong) và SMW3 (SEA-ME-WE 3) với lưu lượng khá thấp. TVH có lưu lượng thiết kế mỗi hướng chỉ 560Mbps, SMW3 lên đến 320Gbps, còn lại kết nối qua các tuyến cáp đất liền.

Cáp quang biển Việt Nam là gì?


Nếu ví hệ thống mạng Internet tại Việt Nam là một ngôi nhà thì các tuyến cáp quang biển Việt Nam chính là "cửa ngõ" để chúng ta kết nối với thế giới liên tục 24/24.

Cáp quang biển được dùng để chỉ các cáp viễn thông có lõi bằng sợi thủy tinh hoặc nhựa, và sử dụng ánh sáng để truyền dẫn tín hiệu, được đặt ngầm dưới biển. Cáp quang biển thường có vỏ bảo vệ nhiều lớp để đảm bảo độ an toàn. Sợi cáp quang biển điển hình có đường kính 7cm, nặng trung bình khoảng 10kg/m.

Ngày nay, cáp quang biển đóng một vai trò rất quan trong kết nối viễn thông, Internet giữa tất cả các châu lục toàn cầu (dĩ nhiên là trừ Nam Cực).

Việt Nam đang tham gia khai thác các tuyến cáp quang biển quốc tế như sau: AAG (Asia - America Gateway), SMW3 (SEA-ME-WE 3), APG (Asia Pacific Gateway), AAE-1 (Asia Africa Europe 1), TGN-IA (Tata TGN Intra-Asia) hay còn gọi là Liên Á , T-V-H (Thailand-Vietnam-Hong Kong) và sắp tới là SJC2 (Southeast Asia-Japan Cable 2)
Ưu điểm của cáp quang internet so với cáp đồng

Ghen bán nguyệt d30




Nhiều loại không có sẵn hàng trên thị trường mà phải đặt trực tiếp nhà máy sản xuất
Hạn chế về mẫu mã chủng loại cũng như nhu cầu sử dụng. Điển hiền là dòng cáp quang treo multimode hiện nay vẫn chưa có trên thị trường

Là sợi quang mà trong đó chỉ có một tia sáng Axial được lan truyền. Do đó, trên lý thuyết sợi quang singlemode hoàn toàn không có hiện tượng tán sắc. Điều này giúp sợi quang singlemode có băng thông lớn hơn và truyền dữ liệu xa hơn so với sợi quang multimode

So sánh Ưu điểm cáp quang single mode và multi mode:

+Khoảng cách truyền tải tín hiệu lớn <80Km
+Quy trình sản xuất đơn giản đẫn đến chi phí “mềm mại” hơn cáp multimode
+Tình trạng hàng hóa được đảm bảo, dễ dàng tìm kiếm cũng như thay thế những lúc sửa hỏng
+Đa dạng về chủng loại cũng như mẫu mã
+Quá trình thi công và sửa chữa dễ dàng hơn
+Phụ kiện thi công hàn nối như ODF, Dây hàn, Dây nhảy rẻ hơn

Phân biệt qua các thông số kĩ thuật in trên cáp quang singlemode và multimode:
 
Nên dùng cáp quang single mode hay multi mode

Từ bản so sánh 2 dòng cáp quang multi mode và single mode. Ta có thể thấy mỗi dòng cáp quang lại có những ưu, nhược điểm riêng của mình

Nếu bạn đang cần 1 tuyến cáp quang với khoảng cách ngắn, tín hiệu phải thực sự ổn định. Cáp Multi mode là sự lựa chọn hoàn hảo

Nếu bạn đang cần 1 tuyến cáp quang với khoảng cách dài, chi phí rẻ, tốc độ vừa phải ( <1000Mbps), bạn có thể chọ dây sợi quang single mode

Sự khác nhau giữa cáp quang singlemode và multimode
 
Cáp quang singlemode có đường kính sợi từ 8-10µ microns và có một chế độ truyền tín hiệu.

Cáp Single mode có đường kính tương đối hep, thường có bước sóng là 1310nm hoặc 1550nm. Mang băng thông cao hơn sợi đa mốt (multimode), nhưng đòi hỏi một nguồn ánh sáng với chiều rộng quang phổ hẹp.

Sợi quang single mode cho phép bạn có tốc độ truyền cao hơn và khoảng cách xa hơn multimode 50 lần, nhưng tốn kém hơn. Sợi single mode SM có một lõi nhỏ hơn nhiều so với sợi đa mode MM.

Lõi nhỏ và sóng ánh sáng đơn giản hầu như loại bỏ được sự biến dạng có thể xảy ra từ xung ánh sáng chồng lên nhau, tín hiệu cung cấp suy giảm ít nhất  và tốc độ truyền dẫn cao nhất của bất kỳ loại cáp quang nào.

Sự khác biệt giữa đa chế độ và chế độ sợi duy nhất là gì?

Cáp quang multimdoe có lõi mang ánh sáng tương đối lớn, thường có đường kính 62,5 micron hoặc lớn hơn. Nó thường được sử dụng cho việc truyền dẫn ngắn.

Cáp quang Singlemode có đường kính là 8-10 micron. Nó thường được sử dụng cho truyền dẫn khoảng cách dài.

Sự khác nhau cáp singlemode và multimode

Nên sử dụng cáp  single-mode hay multimode?

Điều này phụ thuộc vào ứng dụng. sợi multimode sẽ cho phép khoảng cách truyền lên đến khoảng 10 dặm và sẽ cho phép việc sử dụng các thiết bị phát quang tương đối rẻ tiền.

Sẽ có các giới hạn về băng thông của một vài trăm MHz cho mỗi Km chiều dài. Do đó, một liên kết 10 dặm sẽ được giới hạn trong khoảng 10 đến 30 MHz. Đối với CCTV, điều này sẽ ổn nhưng tốc độ truyền dữ liệu không cao.

- Cáp quang nói chung được cấu tạo gồm dây dẫn trung tâm là sợi thủy tinh hoặc plastic đã được qua tinh chế nhằm cho phép có khả năng truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng. Sợi quang còn được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu.

- Cáp quang gồm các phần chính sau:



Buffer coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài có tác dụng bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt

Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi

Jacket: gồm hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp, lớp phủ này được gọi là jacket.

Ưu điểm vượt trội của dây thuê bao quang 4FO

-Dung lượng lớn:

Các sợi quang có khả năng truyền một lượng rất lớn thông tin. Với công nghệ hiện nay trên hai sợi quang có thể truyền được đồng thời 60.000 cuộc đàm thoại.

Như vật một sợi dây cáp quang multimode 4 core có thể truyền tải đồng thời khoảng 240.000 cuộc đàm thoại cùng một lúc.

So với các phương tiện truyền dẫn bằng dây cáp đồng truyền thống, một cáp lớn gồm nhiều đôi dây có thể truyền chỉ khoảng 500 cuộc đàm thoại.

-Kích thước và trọng lượng nhỏ:

So với một dây cáp đồng có cùng dung lượng, cáp sợi quang có đường kính nhỏ hơn và khối lượng nhẹ hơn nhiều. Do đó rất dễ lắp đặt, đặc biệt ở những vị trí có sẵn dành cho cáp (như trong đường ống đứng ở các tòa nhà)

-Không bị nhiễu điện:

Truyền dẫn bằng sợi cáp quang multimode 4 sợi không hề bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ (EMI) hay nhiễu tần số vô tuyến (RFI) và cũng không tạo ra bất kì sự nhiễu nội tại nào.

Sợi quang 4FO cho phép cung cấp một đường truyền “sạch” ở những môi trường khắc nghiệt nhất. Các công ty điện lực thường sử dụng cáp quang, dọc theo đường dây điện cao thế để có thể cung cấp đường thông tin rõ rang nhất giữa các trạm biến áp.

-Tính cách điện:

Sợi quang đơn thuần cũng là một vật cách điện. Sợi thủy tinh này đã loại bỏ nhu cầu về các dòng điện cho đường thông tin.

Cũng giống như các loại cáp quang khác cáp sợi quang multimode 4 core cũng được Học bằng chất điện môi thích hợp không chứa vật dẫn điện và cho phép cách điện hoàn toàn cho nhiều ứng dụng.

Nó có thể loại bỏ được những ảnh hưởng gây bởi các dòng điện chạy vòng dưới đất hay cả những trường hợp nguy hiểm gây bởi sự phóng điện trên các đường dây thông tin như sét hay những sự cố về điện. Đây thực sự là một giải pháp an toàn thường được dùng ở nơi cần cách điện.

-Tính bảo mật:

Sợi quang có độ bảo mật thông tin cao. Một sợi quang không thể bị trích để đánh cắp thông tin bằng những phương tiện điện thông thường như sự dẫn điện trên bề mặt hay cảm ứng điện từ, và cũng rất khó trích để lấy thông tin ở dạng tín hiệu quang. Các tia sáng rất ít hoặc không có tia nào thoát khỏi sợi quang truyền dẫn.

Thậm chí nếu đã trích vào sợi quang được rồi thì cũng rất dễ để phát hiện nhờ kiểm tra công suất ánh sáng thu được tại 2 điểm đầu cuối. Trong khi đó các tín hiệu thông tin vệ tinh và viba có thể dễ dàng thu để giải mã được.

Cáp quang 4FO đều có thể khả dụng đối với hầu hết các dạng thông tin video, thoại hay số liệu.

Các hệ thống này đều có thể tương thích với các chuẩn RS422, RS232, V.35, Ethernet, FDDI, T1, T2, T3, Arcnet, Sonet, thoại 2/4 dây, tín hiệu E/M, video tổng hợp và còn nhiều nữa.

-Khả năng mở rộng:

Cáp quang treo 4FO được thiết kế thích hợp có thể dễ dàng được mở rộng mỗi khi cần thiết. Một hệ thống dùng cho tốc độ số liệu thấp có thể được nâng cấp trở thành một hệ thống tốc độ số liệu cao hơn bằng cách thay đổi các thiết bị điện tử. Hệ thống cáp sợi quang có thế vẫn được giữ nguyên như cũ.

 
3.Mua cáp quang 4 Core giá rẻ chất lượng ở đâu trên thị trường Việt Nam hiện nay

Khi Việt Nam mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, các sản phẩm kém chất lượng và không rõ nguồn gốc không rõ xuất xứ đã ồ ạt thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Với lợi thế về giá cả, việc sử dụng các loại sản phẩm này đã giúp cho nhà phân phối tiết kiệm được chi phí (việc báo giá cáp quang 4FO giảm) và từ đó giúp tăng tối đa về mặt doanh thu.

Tuy nhiên, người dùng phải rất cẩn trọng đối với các loại cáp này.

Còn khi sử dụng sản phẩm cáp quang chất lượng từ các thương hiệu danh tiếng, bạn sẽ không gặp phải tình trạng gián đoạn về đường truyền tín hiệu cũng như độ bền của dây.

Khi chẳng may gặp sự cố ngoài ý muốn, người dùng hoàn toàn được nhà sản xuất hướng dẫn cách giải quyết cụ thể. Ngược lại, nếu bạn sử dụng các sản phẩm không rõ nguồn gốc thì sẽ rất khó để nhận được sự phản hồi khi có sự cố xảy ra cũng như có những chính sách bảo hành cũng như đổi mới.

Cáp quang Single mode là gì?

Khác với cáp đồng truyền thống, cáp quang Single Mode (viết tắt là SMF) sử dụng ánh sáng như một công cụ để truyền và nhận tín hiệu.

Nếu như cáp đồng chỉ cho phép dữ liệu truyền đi với tốc độ thấp và truyền trong khoảng cách rất ngắn (dưới 100m ) thì khoảng cách truyền của cáp quang single mode lại khắc phục được các nhược điểm này.

Sợi cáp quang Single mode được phân loại thành cáp OS1 và cáp OS2. Hai loại cáp này có những đặc tính khác nhau, không thể kết nối cáp OS2 với cáp OS1 điều này sẽ dẫn đến hiệu suất tín hiệu kém. Do đó, việc tìm ra sự khác nhau giữa cáp OS1 và cáp OS2 là vô cùng quan trọng.

Chuẩn Standard của sợi cáp quang singlemode

Cáp OS1 tuân thủ các thông số kỹ thuật của ITU-T G.652 bao gồm cả chuẩn ITU-T G.652A,B,C và D.

Tuy nhiện, cáp OS2 chỉ tuân thủ chuẩn ITU-T G.652C và ITU-T G.652D và một phần của chuẩn ITU-T G.652C/G.657.A1 thường được sử dụng trong cho các ứng dụng CWDM (Coarse Wavelength Division Multiplexing)
 
Cấu tạo của sợi cáp quang singlemode

Sợi cáp OS1 được bọc bên ngoài một lớp polymer thích hợp với những ứng dụng trong nhà. Đối với những ứng dụng trong nhà, các sợi cáp thường được bó lại với nhau và bọc bên ngoài ống nhựa dẻo.

Trong khi đó, cáp OS2 chủ yếu có cấu tạo dạng ống lỏng, thích hợp hơn cho các trường hợp ngoài trời. Cần có kết cấu cáp chắc chắn hơn nhiều khi triển khai trong một số môi trường khắc nghiệt.

OS2 SMF được thiết kế cho phép cáp kéo căng mà không ảnh hưởng đến sợi quang .

Suy hao quang

Sự suy hao của cáp OS1 cao hơn cáp OS2. Thông thường, suy hao tối đa của OS1 là 1,0db/km cho 1310nm và 1550nm, trong khi suy hao của OS2 là 0,4db/km cho 1310nm và 1550nm.

Do đó, khoảng cách truyền tối đa của sợi cáp OS1 là 10 km, trong khi khoảng cách truyền tối đa của sợi cáp OS2 có thể đạt tới 200 km. Cả hai sợi cáp OS1 và OS2 sẽ cho phép tốc độ từ 1 đến 10GbE với khoảng cách truyền khác nhau. Hơn nữa, loại cáp OS2 có thể được áp dụng cho các kết nối Ethernet 40G / 100G.

Làm thế nào để chọn giữa OS1 và OS2?

Khi nói đến việc lựa chọn cáp giữa sợi cáp OS1 và OS2, điều cần thiết là bạn phải làm rõ đó là khoảng cách truyền tải là bao nhiêu.

Cáp quang OS1 được ứng dụng trong các cơ sở hạ tầng mạng trong nhà, chủ yếu được triển khai trong các mạng nội bộ phù hợp với các cở sở hạ tầng như công viên, bệnh viện, khách sạn hoặc phòng data center.

Trong khi đó, cáp quang OS2 thích hợp hơn cho các giải pháp ngoài trời, bao gồm nhà máy bên ngoài hoặc để kết nối các chi nhánh lại với nhau (những ứng dụng cần khoảng cách xa lên đến 200km).

Tại sao chúng ta nên sử dụng OS2 hơn là sử dụng OS1?

Sau khi so sánh hai loại cáp quang, có thể kết luận rằng OS2 phù hợp hơn cho việc truyền tải đường dài mang lại hiệu suất tốt hơn với ít suy hao hơn. Vậy tại sao không áp dụng các giải pháp OS2 tối ưu để tạo ra hiệu suất tốt hơn cho các mạng dữ liệu tốc độ cao hiện nay?

Trên thực tế, trong quá khứ OS1 từng là tiêu chuẩn duy nhất cho cáp quang đơn mode với chiều dài tối đa cho hệ thống khoảng 10 km, điều này không còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi người về khoảng cách và tốc độ.

Cáp quang Singlemode OS2 phù hợp để kết nối Ethernet 1G/10G/40G/100G, đáp ứng các yêu cầu về tốc độ cao với khoảng cách xa.

Do đó, ngày càng nhiều nhà cung cấp có xu hướng cung cấp giải pháp với cáp OS2 SMF cho các ứng dụng mạng hiện đại.
  +1 để tin của bạn có vị trí cao trên google
Ưu đãi lãi suất khi mua căn hộ R3 ở Vinhomes Royal City
Đây là chương trình quà tặng "Mua căn hộ Hoàng gia, ngắm châu Âu mùa vàng" của liên minh các sàn ...

  Hỗ trợ đăng tin: Mr Thắng - 0917 212 969 | Email: vietseo @vietseo.com

Tiếng Việt English Français